← Trang Vấn Đáp |
| Sư Giác Nguyên → |
|
Mục lục :: Ghi chép Vấn đáp – 13/07/2025
↑ top Hỏi: Mật tông thường dùng từ "quán tưởng" về vị Phật hoặc Bồ tát, vậy theo kinh điển Pali từ "quán tưởng" có thể hiểu như thế nào? Đáp: Chữ "Quán tưởng" là do chúng ta dựa vào bản dịch tiếng Việt. Trong kinh điển Pali có danh từ anussati; Động từ là anussarati = Nhớ về/ Niệm tưởng. Có những bản dịch là Quán tưởng cho sang. Căn cứ bản Pali chúng tôi dịch là Niệm tưởng. Niệm tưởng, theo Thanh Tịnh Đạo phần 6 Tùy niệm (bản dịch Ni sư Trí Hải hoặc bản tiếng Anh của ngài Ñāṇamoli, hoặc bản Pali, tiếng Thái, tiếng Đức,... gì đó ) trong đó có nói, Niệm Phật, niệm Pháp, Niệm tăng, niệm Tam Bảo không có nghĩa đọc thầm chữ nào đó. Niệm = Suy tư. Ví dụ, đức Phật có những hồng danh. Phật = Người hiểu Tứ Đế, thức dậy từ giấc ngủ Vô minh. Chánh Đẳng Giác = Tự mình hiểu biết hoàn toàn mọi sự, không gì Ngài không biết. Thiện Thệ = Người đã đến, đã đi trên con đường tốt nhất, nói điều tốt nhất. Thế gian giải = Cái gì cấu tạo vũ trụ, làm sao rời khỏi, thoát khỏi thế gian Ngài biết rất rõ. Theo kinh điển Nam truyền, trừ các đề mục thiền: đất nước lửa gió, xanh vàng đỏ trắng, hư không, ánh sáng thuần túy cần tập trung, không cần suy tư; Riêng mấy đề mục như Niệm Phật không phải niệm thầm một chữ như nhiều người hiểu lầm. Không phải cứ arahaṁ arahaṁ, buddho, buddho... không phải. Rất nhiều người hiểu lầm cái đó. Mở Thanh Tịnh Đạo coi có phải vậy không. Chúng tôi biết cái gì mà nói. Trong đó nói, phải suy nghĩ Buddho là cái gì, Arahaṁ là cái gì. Cho nên, chữ “quán tưởng” trong kinh điển Pali là như vậy đó. ↑ top Hỏi: Lục độ vạn hạnh của Bồ tát theo truyền thống Bắc tông có một độ là Thiền định ba la mật. Tại sao trong 10 hạnh Ba la mật (theo truyền thống Nam tông) lại không nhắc đến Thiền định ba la mật? Đáp: Nam tông thiền định được kể chung Trí tuệ. Trí tuệ có Văn, Tư, Tu. Văn = Trí tuệ có từ nghe, học Tư = Trí tuệ có từ suy tư, gặm nhấm, thấm thía, tiêu hóa Tu = Trí tuệ có từ tu tập thiền chỉ & thiền quán. Bắc truyền tách riêng Thiền định ra khỏi Trí tuệ Ba La Mật; Nam truyền thì Thiền định được kể chung Trí tuệ, nằm trong Trí tu; Nam truyền xác định rất rõ: Tất cả những nhân vật lớn như Chánh Đẳng Giác, cho tới Độc Giác, các vị đại đệ tử lớn của đức Phật đều chứng nhập thiền định từ nhiều đời đến kiếp cuối cùng, rất dễ dàng. Ở đâu ra chuyện chứng nhập dễ dàng? Vì tất cả những nhân vật lớn đều là những bậc ly dục, trên nền tảng ly dục các Ngài không có đường nào đi ngoài tu thiền. Dù bổn nguyện, bổn hạnh phải đi vào các cõi để tu tập Ba La Mật, có kiếp làm cư sĩ có vợ có con, có danh vọng, sự nghiệp, gia tài, sự sản,... nhưng căn bản của các ngài là Ly dục. Thấy Thập độ Nam truyền không kể nhưng phải hiểu nó trong Trí tuệ; Thứ hai, Thiền định quan trọng là tinh thần ly dục. Vượt khỏi thế giới vật chất mới đi xa, đi lên cao được trong tâm linh. ↑ top Hỏi: Trong Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn có 2 đoạn: I: Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. VI: Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết. Kính xin Sư giải đáp giúp con tại sao Thế Tôn cho phép bỏ giới nhỏ? Đáp: Hai câu này nghe mâu thuẫn thật ra tuyệt đối không mâu thuẫn. Câu thứ nhất - Cái gì đức Thế Tôn cấm chế, ban hành dựa trên cơ sở trí tuệ hết, không phải như luật lệ phàm phu,nó có nhiều lý do để ban hành, nhiều khi từ ý muốn một vài cá nhân. Ngài thì khác, Ngài là bậc Chánh Đẳng Giác, bậc Toàn giác tất cả học giới Ngài ban hành đều có lý do hết. Trên tinh thần đó Ngài mới dạy, tự mình hỏi mình coi đúng không: Nếu tất cả học giới đức Phật đã dạy đều bằng trí tuệ một vị Phật đem lại lợi ích cho người đệ tử xuất gia thì có đúng hay không nếu mình giữ nguyên không thêm bớt? Quá đúng. Thêm cái này bớt cái kia là chuyện không nên. Mình bê bối không giữ là chuyện của mình nhưng chính thức, công khai,d đường hoàng mà hè nhau thêm cái này bớt cái kia là chuyện không nên, dứt khoát là không. Bởi vì lời Phật như hình tam giác của kim tự tháp, mình lấy dao gọt phần nhọn nhất riết nó còn hình bình hành,... hễ ngắn là mình bớt đi, riết còn đường thẳng thôi, rồi xén cuối cùng còn dấu chấm, là bôi luôn hình tam giác đó. Tốt hơn hết để nguyên hình tam giác đó. Các vị thử đi. Đoạn kinh trước xác định không nên bỏ. Nhưng câu thứ hai, Ngài dạy khi Ngài đi rồi có thể bỏ bớt, vì sao? Câu này cũng từ trí tuệ đức Phật, vì có những bài kinh Ngài xác định có những dị biệt không ảnh hưởng chuyện tu học thì nên linh động. Ngài có dạy 4 pháp dung hòa: • Có những cái Ngài chưa cấm, mình xét thấy không nên làm - tự cấm • Có những cái Ngài chưa cấm, thấy ok - có thể linh hoạt • Có những cái Ngài chưa cho phép nhưng thấy không nên - tự né • Có những cái Ngài chưa cho phép nhưng thấy ok, thí dụ Ngài không cấm xài phone, không cấm đi máy bay,... mình thấy ok - có thể thực hiện. Có những cái Ngài chưa cấm nhưng thời Ngài không có nhưng thời này mình thấy người xuất gia không nên như vậy thì mình tránh; Đoạn thứ 2 hướng đến 4 pháp dung hòa của Tạng Luật. 2 cái này không khác nhau: • Tất cả lời dạy Ngài cấm chế nếu đừng thêm bớt thì đạo trường cửu. Quá đúng. • Có những tình huống thấy có chuyện gì, chuyện nhỏ = Bất tiện mà không ảnh hưởng tinh thần tu học thì trong trường hợp đó có thể linh động. Quan trọng: Trong đời đức Phật, Ngài dạy đạo 45 năm nhưng có vài câu nói của Ngài cho đến ngày hôm nay những tay không biết Phật là gì vẫn thương kính Ngài, từ đó họ mới tìm đến phần giáo pháp còn lại. • Khi Ngài mới thành đạo: Liệu ta có cần thầy, bạn nào để nương nhờ hay không? Một người vĩ đại như vậy còn có suy nghĩ đó; Xét thấy không ai bằng Ngài. Rồi thôi; Ngài không kiêu ngạo như mình nghĩ. Vĩ đại như vậy nhưng vẫn có suy nghĩ đó: Có người nào để ta tới tham khảo không? • Lời dạy thứ hai: Đừng vội tin bất cứ điều gì khi chưa cân nhắc cẩn thận cho dù điều đó là lời dạy sư phụ, cho dù điều đó vừa vặn não trạng, tư duy, kiến thức, quan niệm xưa giờ của mình; Đừng vội tin vì thiên hạ công nhận...Có vị đạo sư nào trên đời dám như vậy không? Kêu gọi tinh thần tự do, dân chủ ngay trong nhận thức cá nhân. Không có một vị nào can đảm như vậy. • Chính đức Phật kêu gọi chúng tỳ kheo đệ tử nghiêm túc thực hiện lời dạy của Ngài nhưng vẫn xác định tất cả những cái đó không phải lồng cũi, chuồng chậu giam nhốt các ngươi, các ngươi có thể linh động. Kinh Mi tiên, Vua Milinda hỏi ngài Nagasena vụ này. Ngài mới nói: Một vị hoàng tử chí hiếu thương kính vua cha, hiểu vua cha, có tinh thần ái quốc, yêu dân tộc; thì khi vua cha băng hà, vị này lên ngôi có đành lòng cắt đất tặng ngoại bang, láng giềng không? Không. Không kiếm thêm thì thôi làm gì cắt đất, cho bớt. Những gì đức Phật dạy có lý do hết; sâu lắm. Từng học giới đức Phật cấm chế sâu lắm. Thí dụ, tại sao Ngài không cho tỳ kheo tự ý cất cốc mà không trình tăng? Tại sao kích thước phòng riêng của tỳ kheo khi tỳ kheo tự cất kích thước đó không nên vượt quá quy định? Sâu lắm. Mình chỉ lấy ra 1, 2 cái thôi. Cất cốc phải trình tăng. Tăng = Ý kiến tập thể. Trí tuệ tập thể, đám đông sẽ xét thấy những gì nên không nên, những nguy cơ, bất trắc có thể xảy đến. Kích thước phải quy định - không quy định thì vị tỳ kheo sẽ cất villa, lâu đài để ở, nếu có điều kiện. Như vậy thì tan hoang. Ngài quy định kích thước chừng đó, nói theo đơn vị của mình mỗi cạnh không quá 3m. Làm ăn được gì với diện tích đó? Mỗi học giới sâu lắm. Ngài cấm không cho giữ thức ăn qua đêm, không giữ y dư,... nghe nó nhẹ nhưng sâu lắm. Người thật lòng cầu đạo giải thoát họ không có ý cất, khỏi dặn. Người có ý tích lũy thì phải dặn. Khi không dặn nó thành tiền lệ là chết. Cái này mới ghê. Trong kinh có câu này, có những vị tỳ-kheo gặp Phật thương Phật, quý Phật, tin Phật đi xuất gia theo Phật, sau thời gian học Pháp, học luật phải phán câu: Sudukkaraṁ Bhagava - Lời Phật dạy khó làm quá. Phải đi ra, không dám xuất gia nữa. Trước mắt Phật, thần uy của Phật bằng trời bằng biển người không giữ được không dám mặc y. Người thời nay có làm gì trời biết, khéo che khéo diễn thì ok; Khi Ngài có những cấm chế về y áo, thực phẩm, chỗ ở,... đúng là chân tu mới chịu nổi. Hay như vậy đó. Thứ nhất - Ngài cấm chế ngừa trường hợp Tỳ kheo không giữ tài sản. Khi tỳ kheo có tài sản là tan hoang sự nghiệp. Trong luật có nói, Mặt trời mặt trăng bị mây, bụi ám. Người xuất gia bị tài sản, quan hệ xã hội ám. Chính những điều luật đó ngăn chặn không cho nó ám. Thứ hai, khi cấm chế chặn bớt người không có lòng tu, họ chịu không nổi. Sudukkaraṁ bhagava- Lời Phật dạy khó làm quá, họ làm không nổi. Cả 2 câu này không hề mâu thuẫn nhau. ↑ top Hỏi: Làm thế nào phân biệt Thọ Xả và Vô minh vi tế trong thực hành Niệm Thọ? Đáp: Không học A Tỳ Đàm nói tới chết không hiểu. Hai cái này khác nhau xa lắc, như phân biệt trái sầu riêng & trái ổi. Muốn nghe thêm phải đi học Kalama hoặc Thụy Sỹ còn không kiếm thầy, bạn mở lớp online học với nhau. Mỗi chúng sanh gồm 5 uẩn. Sắc uẩn = Cái gì thuộc hình thể vật chất, gồm đất nước lửa gió. Thọ uẩn = Những cảm giác Khổ - Lạc- Ưu- Hỷ- Xả. Tưởng uẩn = Những kinh nghiệm, kiến thức, hồi ức thông qua 6 trần: thấy nghe ngửi nếm đụng, nhìn biết hoa không phải trái, nhìn biết con rắn không phải con chuột, nhìn biết cái nhà không phải toa-lét. Hành uẩn = Tất cả những thiện, ác. Ác gồm tham, sân, si, ái, mạn, kiến, nghi... Thiện = Tín, tấn, niệm, định, tuệ,... Thức uẩn = Cái biết của 6 thức. Xả nằm Thọ uẩn; Vô Minh nằm Hành uẩn. Câu hỏi này y câu hỏi làm sao phân biệt trái ổi – trái sầu riêng, nghe trái trái tưởng giống nhau. Giống như có người hỏi cá sấu – cá dữ tuần rồi tôi giảng, vì họ bị ám chữ “cá”, thật ra không phải; con cá sấu nó không có những tập tính sinh hoạt, và đặc điểm sinh học của một con cá. ↑ top Hỏi: Trong quá trình phát triển Tâm Từ theo hệ thống Visuddhimagga, làm thế nào hành giả có thể chuyển hóa tâm từ từ tầng bậc hữu vi (saṅkhata) sang trạng thái cận định và định, mà không để tâm từ biến thành sự dính mắc vi tế (piya-rāga) đối với đối tượng thiền? Đáp: Làm ơn coi Thanh Tịnh Đạo dùm trong đó người ta nói rất là rõ. Người nhiều kiếp tu tập Từ Tâm bây giờ họ chỉ khởi niệm: Mong vô lượng chúng sanh được an lạc, đừng đau khổ; Hãy giữ được cái tốt đẹp mình có; Mọi sướng khổ của chúng sanh ở đời do hạnh nghiệp riêng mà thành. Chỉ nghĩ vậy là họ thành. Có những người duyên không ghê gớm như vậy. Bắt buộc đi theo trình tự. Giống như bẩm sinh người ta khỏe mạnh quơ quơ ba cái là 6 múi liền; còn mình xanh lè xanh lét thì phải điều chỉnh chế độ ăn uống, chế độ tập luyện, có sự kềm cặp hướng dẫn, chưa kể điều kiện phòng ốc, phòng gym, thầy bạn rủ rê,... còn có người bẩm sinh khỏe chỉ cần đạp xích lô tuần lễ là ngon lành. Tâm từ là cái gì? Người tu nhiều đời nhiều kiếp giờ họ chỉ khởi niệm là chứng liền. Người duyên kém bắt buộc đi theo trình tự. Hành giả phải đi theo cách các vị tiền bối bày. Mình phải xác định bao nhiêu đối tượng mình muốn nhắm tới - 7 đối tượng, 10 hướng, 6 câu nguyện: • Mong cho tất cả loài sa đọa ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả thánh nhân ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả phàm phu ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả chư thiên ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả nhân loại ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả nam ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy • Mong cho tất cả nữ ở hướng Đông/ Tây/ Nam/ Bắc/ Đông Nam/ Đông Bắc/ Tây Nam/Tây Bắc/ Hướng trên/ Hướng dưới hãy được vậy Từng đối tượng của 7 đối tượng trong từng hướng của 10 hướng họ được cái gì, đừng bị cái gì trong từng điều của mỗi đề mục. Tổng cộng là 820 câu không được nhầm lẫn.Mình thiếu tập trung thì nó lộn. Trong đó nói rõ: Buổi đầu nên tránh những đối tượng nào không nên nghĩ tới: những người mình quá ghét, đối tượng mình quá thương, người đã chết. Trong đó nói rất rõ. Câu này nên hỏi này cho người ta thương: Nghe nói đề mục Tâm từ mà không biết nên tu kiểu gì. Hỏi chi nghe chuyên nghiệp mà trớt quớt. Chịu khó vô Thanh Tịnh Đạo giảng về Bốn phạm trú. ↑ top Hỏi: Giấc mộng thấy voi trắng của hoàng hậu Ma-da, 5 giấc mộng của Đức Phật và 7 giấc mộng của ngài A Nan có được xem là điều tiên tri như bói toán, coi điềm lành của ngoại đạo không? Vấn đề này theo Phật giáo nên được hiểu như thế nào cho đúng? Đáp: Tàu có câu chửi nặng: “Thiểu kiến đa quái” = Biết càng ít nhìn gì cũng hoang mang, thấy lạ. Phong thủy, chiêm bao, tử vi, chiêm tinh, giải mộng, ... mình không thể bắt chước trí thức nửa mùa mình bác nói mê tín dị đoan, cũng không nên nhắm mắt nhắm mũi thờ phụng nó như chân lý tuyệt đối. Không nên cuồng tín thờ lạy, cũng không nên cuồng tín bác bỏ. Vội vàng tin = cuồng tín. Tin vào thuyết phủ định cũng là một thứ cuồng. Trong trời đất này mình biết được bao nhiêu? Biết ba mớ tự cho mình trí thức phán này phán kia nghe nó buồn cười lắm. Trong kinh nói Chiêm bao có 4 trường hợp: 1. Biến động sinh học (dhātu semhika): Trong người mình bị bao tử, bị phổi,.. dễ nằm chiêm bao thấy này thấy kia; hoặc Trời lạnh, trời nóng, bụng đói, muỗi chích mà ngủ say quá dễ nằm chiêm bao thấy thứ đang diễn ra trên người mình,... 2. Tác động của giới khuất mặt (devatūpasamhāra) : Những thành phần khuất mặt đó họ muốn mình thấy cái gì, hoặc người có thần thông muốn mình thấy cái gì. Chẳng hạn trong kinh nói, ông vua có lòng chống đối chư tăng, có người em gái đi tu đắc A La Hán, thấy ông anh sắp gieo trọng nghiệp, vị đó mới dùng thần thông tác động đêm đó ông vua mơ 3 lần, thấy quỷ sứ nắm nhúng ổng vô cái chảo rồi kéo ra, đêm ổng thấy 3 lần. Sáng, người em gái là vị tỳ kheo ni vào thăm mới giải thích: Hoàng huynh mà còn ý chống đối các vị hiền thánh thì hết kiếp này mệt lắm. 3. Tư duy của mình (samudāciṇṇa) – Nhật hữu sở tư giả hữu sở mộng = Trong ngày mình nghĩ nhiều cái gì ban đêm thấy cái đó. 4. Điềm báo (Pubanimittata): Chuyện gì sắp xảy ra tự nó có những tác động nhất định lên dòng chảy tâm thức của mình, thí dụ một con tàu, con thiên nga đi dưới nước thì tạo những gợn sóng, những người tâm tư quá bén nhạy khi chuyện sắp xảy đến họ cảm được. Hai là chuyện quá quan trọng khi nó sắp xảy đến nó có dư hưởng, dư chấn. Chuyện bà Maya, chuyện Bồ Tát nằm mơ một là chư thiên, hai là điềm báo. Còn mình chỉ biết một chuyện – cái gì không biết mình quy vô mê tín; Nói ra thì con chém. 100 triệu dân Việt Nam mình thì toàn kiến thức ba mớ này không. Hồi tin cuồng thì giống gì cũng tin, lạ lạ là tin, miễn là cái gì đi ngược lối cũ xưa giờ, lạ là tin. Hai là theo cái gì mình biết ba mớ. Âu Mỹ không như vậy. Cái gì thấy lạ là người ta đi tra cứu, tham khảo. Não trạng trong nước một là dễ dụ để theo hoặc dễ dụ để chống. Không trách được vì không khí tư duy khó sửa lắm. ↑ top Hỏi: Vì sao Đức Phật phân giải Ngũ uẩn theo 11 khía cạnh đối đãi: 3 thời, trong - ngoài, thô - tế, thắng - liệt, gần – xa? Một vài ví dụ cụ thể liên hệ giữa cách phân giải này với hành trình tu chứng? Đáp: Câu trả lời này y hệt chuyện nãy tôi nói. Đối với người đại trí, hữu duyên không cần nói nhiều chỉ nói: Vạn hữu là vô thường là khổ, là đủ rồi. Nhưng có trường hợp phải nói sâu, nói rộng, nói rõ, nói nhiều, lặp đi lặp lại để tạo cho người một không khí tâm lý, một cái trớn để người ta hình dung. Thí dụ Ngài nói cái gì thuộc về tinh thần, vật chất đều vô ngã, vô thường, bất kể là cái đã qua hay sẽ đến, xa muôn trùng hay gần ngay trước mắt, đẹp cách mấy, xấu cách mấy, trong ta hay ngoài ta. Cách nói này với nhiều người vô cùng cần thiết. Ví dụ có 2 đứa bé. Một đứa mình nói: Không nhận quà của người lạ. Đủ rồi. Có đứa mình phải nói: Con không nên lân la với người lạ, dầu họ cho đồ ăn gồm bánh, kẹo, trái cây, kẹo nhai, kẹo mút; thức uống, dầu nước trái cây, sinh tố, nước cam, nước chanh... cũng không nha; đồ chơi dầu bằng nhựa, đất, đá... cũng không nha. Phải kể như vậy. Phải nói rõ tạo ấn tượng sâu sắc trong nhận thức, tư duy của người nghe. Ngài nhấn mạnh: Tất cả những gì về danh, về sắc, về hồn, về xác, dầu là cảm xúc hay tâm trạng, dầu là thiện ác sướng khổ buồn vui, tất cả đều vô ngã vô thường, cho dù là cái đã qua hay sẽ đến, hay là đang có, xa bao nhiêu, gần bao nhiêu trong ta hay ngoài ta, vi tế hay thô thiển, thù thắng hạ liệt bao nhiêu. Miễn là có hiện hữu ở đời, có tồn tại ở đời là vô ngã, vô thường. ↑ top Hỏi: Con thấy nhiều người không biết Phật pháp nhưng họ vẫn rất chánh niệm theo kiểu làm gì biết nấy như sư hay nói. Như vậy, có sự khác nhau giữa chánh niệm của một người có học giáo lý và người không biết giáo lý? Đáp: Ông phi công có sự cẩn trọng, người mẫu sàn catwalk cũng có sự cẩn trọng, kỹ sư thợ máy trong buồng máy ngoài biển cũng phải có sự cẩn trọng, chuyên gia bảo dưỡng hàng không cũng có sự cẩn trọng, anh sửa xe đạp bên lề đường cũng có sự cẩn trọng. Mấy sự cẩn trọng này giống hay khác? Anh là ai? Công việc là gì? Sự cẩn trọng ở mức độ nào? Anh sửa honda vừa huýt sáo, vừa đong đẩy theo điệu nhạc. Nhưng ông sửa máy bay có quyền lơ lơ như vậy không? Tôi chưa leo lên đó nhưng tôi nghĩ không được. Tôi có người quen họ làm bảo dưỡng máy bay ở sân bay Zurich, họ nói, trời ơi, một lỗi nhỏ, nó không đơn giản. Trên từ ngữ thì thấy anh nào cũng có sự cẩn trọng. Nhưng sự cẩn trọng của anh sửa honda, xe đạp lề đường với sự cẩn trọng của anh thợ máy bay, anh thợ máy ngoài khơi, cẩn trọng của phi công, của ông điều khiển tàu ngầm ngoài đáy đại dương. Mình coi kỹ coi: Họ là ai, công việc họ là gì? Họ nhắm tới chuyện gì? Mức độ cẩn trọng họ tới đâu? Thì ở đây cũng vậy mình cứ nói bằng ngôn ngữ người ta không biết đạo người ta cũng chánh niệm. Ok nhưng người đó là ai? Họ có biết Phật pháp không? Chánh niệm giúp họ hoàn tất chuyện gì? Chứ mình cắt khúc có một chữ. Anh là ai? Anh làm chuyện gì? Một hoa hậu sàn catwalk họ cũng chánh niệm, ý tứ chứ. Họ đi rất chánh niệm nhưng mục đích tối cao của họ là gì? Tiền. Hết. Còn ông kỹ sư bảo trì máy bay mục đích tối đa của ổng là gì? Là sự an toàn của hàng trăm, hàng ngàn người. Nó lớn chuyện vậy đó. = ↑ top Hỏi: Vì sao Đức Phật không cho chúng sinh thấy cảnh địa ngục mà ngài chỉ mô tả, nếu chúng sinh thấy tận mắt họ sẽ ý thức về thoát luân hồi sinh tử hơn không ạ? Đáp: Trong kinh nói có 2 trường hợp. Có trường hợp Ngài có cho người ta thấy. Trong Chú giải Ngài cho một cá nhân nào đó nhìn thấy thiên cung, địa ngục, chỉ cá nhân đó thôi chứ Ngài không cho tất cả mọi người. Vì sao không cho tất cả? Vì có những người mình cho họ thấy lợi bất cập hại. Một là họ tưởng Ngài phù phép, bùa chú, cái đó không có thật, Ngài có khả năng tạo ra ảo giác – họ tà kiến, họ chỉ nghĩ vậy thôi; Nếu không tin họ nghĩ Ngài phù phép. Nếu đã tin Ngài nói vậy đủ rồi. Bữa hổm tôi có nói thế này: Có nhiều câu hỏi các vị hỏi ai người ta không trả lời vì Nếu mình tin họ mình đã không hỏi. Nếu mình hỏi có nghĩa là mình không tin. Mình không tin thì họ nói gì mình cũng không tin, nếu tin mình đã không hỏi. Hoặc có thể họ nói sơ sơ mình đã tin. Có những người Ngài có cho thấy. Phần lớn Ngài chỉ nói. Người có vốn tà kiến thấy nó chỉ hiểu bậy. Chẳng hạn bây giờ thiếu gì Phạm Thiên, Thiên Nhân ở Đao Lợi, Đâu suất họ có thiện chí họ hiện hình xuống đây hoằng pháp – tốt quá. Không. Chỉ có hại thôi. Vì người có chánh kiến họ chỉ nghe đạo là đủ rồi. Trong lúc họ thực tập hành trì họ sẽ thấy ra nhiều cái nó không thua gì chư Thiên hiện ra, nếu họ làm đúng, có điều họ không nói mình biêt thôi. Người tà kiến chư thiên có hiện ra thuyết pháp nó không bận tâm điều vị này giảng, nó lập đạo thờ thần, thờ tiên còn báo nữa. Nên nhớ: Không ai giỏi hơn chư Phật Chánh Đẳng Giác. Tại sao Ngài không dùng thần thông trong mọi tình huống? Vì chính lý do này. Người hữu duyên họ chỉ cần nghe là đủ rồi. Trường hợp đặc biệt họ chỉ cần tí ti sự hỗ trợ thần thông là đủ. Người hữu duyên nghe câu : Vạn hữu vô thường là họ chứng rồi. Còn thứ tà kiến rồi cho nó thấy/ giảng nó nghe chuyện ly kì nó càng điên lên nữa. Có nhiều người lạ lắm. Tiểu đường chữa kiểu nào cũng sanh biến chứng. Có nhiều tay ung thư để yên còn sống chứ đụng vô là đi còn lẹ nữa, cơ địa, thể trạng nó quái đản vậy đó. Nhiều tay ung th kỵ dao kéo. Không phải ai cũng vậy vì thể trạng, cơ địa như vậy. ↑ top Hỏi: Vì sao có người nhớ chính xác về tiền kiếp dù không tu tập gì ? Đáp: Có vố số lý do một người nhớ được kiếp trước. • Do lời nguyện. Thí dụ, ngài Jotika bên Miến Điện nguyện: Mong đời đời sanh ra tôi nhớ được kiếp trước. • Do kiếp trước họ nhiều đời chánh niệm mạnh. Hạng này rất hiếm. Họ từng tu tập hoặc thường sống có chánh niệm. • Do chuyện kia xảy ra quá gần để lại ấn tượng quá lớn. Chẳng hạn bên Mỹ có ông đó người ta nói ổng có khả năng soi kiếp. Người không biết phật pháp tin sái cổ, có người biết ba mớ thì bài bác, tôi thì 50/50. Mình thấy có ông Carl Jung hay Sigmund về phân tâm học có nhiều cái rất có lý. Ông này - Có người sợ bóng tối khi gia đình đem đến ông nói bà này từng chết trong một giấc ngủ, động đất vùi bà xuống, bà quờ quạng xung quanh không thấy gì. Bả ra đi trong sự mịt mờ đó. Nên bóng tối với bà rất dễ sợ. Có bà sợ nước. Từ bé kẹt lắm thì bả phải đi tắm giặt, rửa chén rửa ly thì có, nhưng số lượng ít thôi, chứ biển hồ, bồn tắm,... bả tránh xa không dám lại gần, vì kiếp xưa bả từng bị chết đuối. Nói chung cái gì có thể làm bả chìm là bả sợ. Như vậy có nhiều lý do. • Nhiều người kể họ có chút vấn đề về tâm thần, họ bị hoang tưởng, ảo giác. • Trường hợp thứ 5 thích thì kể không thì thôi, có những người thích nổ. Thí dụ đồng bóng hỏi tôi có hay không, thì theo tôi 1% bị nhập, bị dựa là có thiệt nhưng 99% là bị tưởng tượng cũng có, do tâm thần cũng có, hoặc là họ có ý gian cũng có – mượn nước đẩy thuyền, thấy người ta tin quá sẵn làm luôn. Nghe nói ông đó mới chết con cháu trong nhà dị đoan là rồi. Ít bữa ngồi chơi chơi, trợn trắng trợn dọc, giả giọng ông già, xin thuốc lá hút ngậm phì phép phán tầm bậy tầm bạ. Nhiều lắm. Có rất nhiều lý do mà mình phải tỉnh táo. ↑ top Hỏi: Thế nào là saṇkhara? Vô minh có phải là duyên duy nhất cho các hành hay còn có các duyên khác? Đáp: Không chịu học hỏi kiểu này là trớt quớt. Nhưng nói cho những người còn lại. Luân hồi là một vòng tròn. Nhân tạo ra Quả; Quả tác động Quả. Quả tác động Nhân; Nhân tác động Nhân. Cái nó tác động Vô minh – đời này có thể là vô minh đời trước; bên cạnh vô minh đời trước nó còn vô số điều kiện hỗ trợ khác, thí dụ: Do vô minh đời trước mới tạo các nghiệp thiện ác, đời này tôi mới có mặt ở đây. Mà do tôi là người giàu, khỏe, tiếng tăm, quyền lực – quả lành; Do vô minh đời trước cộng quả lành nên tôi mới chìm sâu, đắm đuối trong cuộc đời Vô thường này. Vậy rõ ràng, ngoài Vô minh/ phiền não quá khứ còn có điều kiện hiện tại. Hoặc là do nghiệp xấu đời trước giờ tôi sanh ra đói, nghèo, bệnh tật, hoặc sa đọa làm con trùng, con dế, con hàu, con ốc ngoài biển. Do vô minh đời trước mới tạo nghiệp tái sinh + Điều kiện sinh học hiện tại nơ-ron của tôi không cho phép tôi tư duy. Tiếp tục ngu nữa. Hoặc mình sanh ra trong thân người nhưng ở hoàn cảnh, điều kiện tà kiến. ở vùng sâu, vùng xa không có điều kiện phát triển trí tuệ. Như vậy, mình thấy rõ ràng, nó là hình tròn - Cái gì trong hình tròn nó cũng hỗ trợ được hết. Thí dụ: Kỳ nhông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, ... Kỳ đà vẫn quan hệ với kỳ nhông, bày vòng tròn mình tưởng phải kỳ nhông mới ra kỳ đà, thật ra mấy con này nó ảnh hưởng trực/ gián tiếp lẫn nhau, theo 4 nguyên tắc Nhân Quả: Nhân tạo ra quả, Quả tác động Quả, Quả tác động Nhân, Nhân tác động Nhân. Phiền não quá khứ tác động phiền não bây giờ. Đúng. Nhưng quả bây giờ tôi chịu cũng góp phần tác động Vô Minh. Khổ quá nó khờ. Sướng quá nó cũng khờ. ↑ top Hỏi: Nếu có cận tử nghiệp và thường nghiệp tốt thật tốt thì có thể chắc ăn được 70 - 80% nghiệp dẫn dắt đi tái sinh tốt hay không? Đáp: Nghe 70, 80% là biết có vấn đề. Vì nó vô hình vô tướng mà đem số phần trăm có vẻ cụ thể quá. Các vị coi Kinh Đại nghiệp phân biệt – trung bộ kinh là: Chúng ta hoàn toàn có thể ra đi về một cảnh giới nào đó bằng một thứ nghiệp nào đó được tạo ra bởi một thời điểm nào đó rất là khó nói. Thí dụ: Trong kinh đại nghiệp phân biệt nói rất rõ – vào thời điểm B chúng ta tạo nghiệp lành, trước đó thời điểm A tạo nghiệp xấu, C, F mình tạo nghiệp lành, nhưng tới N, S là tạo nghiệp ác. Nó khổ như vậy đó. Nghiệp có 4 loại: • Thường nghiệp: Nghiệp thường làm. • Trọng nghiệp: Đối tượng mình nhắm đến là cá nhân đức độ hoặc tập thể trong đạo. • Khinh thiểu nghiệp: Nghiệp lâu lâu làm lần. • Cận tử nghiệp: Nghiệp giây phút cuối đời. Hỏi mình đi bằng cái nào? Thì trong Chú giải nói Cận tử nghiệp quan trọng hoặc Trọng nghiệp quan trọng hoặc thường nghiệp quan trọng. Nhưng mà cái đó là nói cho hiểu. Theo kinh Đại nghiệp Phân biệt thì chỉ có đức Phật, ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên mới có khả năng thấy chính xác. Nhất là nó vô hình mà đừng đem con số 70-80% nghe nó cụ thể lắm, cái kia vô hình mà. Cả đời mình gian ác nhưng có thể phút cuối đời mình ra đi bằng nghiệp của một kiếp. (Mất sóng internet). Kết thúc buổi vấn đáp. Mục lục
1. Pháp đàm 04/09/2022
| 2. Pháp đàm 18/09/2022 3. Pháp đàm 25/09/2022 4. Pháp đàm 02/10/2022 5. Pháp đàm 09/10/2022 6. Pháp đàm 16/10/2022 7. Pháp đàm 23/10/2022 8. Pháp đàm 30/10/2022
9. Pháp đàm 27/11/2022
| 10. Pháp đàm 04/12/2022 11. Vấn đáp – 06/07/2025 12. Vấn đáp – 13/07/2025 13. Vấn đáp – 20/07/2025 14. Vấn đáp – 17/08/2025 15. Vấn đáp – 05/10/2022 | |