← Trang Vấn Đáp

Sư Giác Nguyên →



Mục lục :: Ghi chép
Vấn đáp – 20/07/2025

  1. Luật Nhân quả thuộc Chân đế hay Tục đế?
  2. Nghiệp hành thiền Minh Sát có cho quả tái sinh không?
  3. Nghiệp tục sinh
  4. Chánh niệm tỉnh giác & hơi thở
  5. Thường Cận Y Duyên
  6. Saṃsīdati và Samāpatti
  7. Nghề xem bói & phong thủy
  8. Si Phóng dật
  9. Ngũ giới và việc Quy y
  10. Tứ Trưởng và Tứ Như Ý Túc
  11. Làm việc trong các sòng bài
  12. Trình tự đọc tam tạng kinh điển
  13. Thảo luận giáo pháp
  14. Giác ngộ ở người Đoạn kiến vàngười Thường kiến
  15. Sau khi Niết Bàn có quay lại độ thế được không?
  16. Nhập Thiền Quả
  17. Ăn trứng có tạo nghiệp sát sanh không?
  18. Xuất gia tại các nước quốc giáo
  19. Nghiệp sát sinh khi cắt cỏ
  20. Tiêu đề sách chú giải


Hỏi: Luật Nhân quả thuộc Chân đế hay Tục đế?
Đáp:
Người hỏi câu này có biết Chân đế là gì? Tục đế là gì hay chưa?
Chuyện đầu tiên mình phải biết - Thế giới có 2 cách nhìn: Nhìn qua bản thể và nhìn qua hiện tượng.
• Nhìn qua bản thể: Thấy được, hiểu được cái gì thuộc vật chất chỉ là Bốn đại (Đất, nước, lửa, gió), cái gì thuộc tâm linh, tinh thần chỉ có mấy thứ tâm thiện, ác, trung tính. Tất cả vật chất & tinh thần gọi là Danh & Sắc, liên tục sanh diệt chớp nhoáng. Từ bản thân mình đến người chung quanh, vô lượng vũ trụ nhìn như vậy là qua Chân Đế.
• Nhìn qua Tục đế là qua khía cạnh thế gian, thí dụ có núi sông, biển cả, kênh rạch, sông ngòi, con người, chim muông, thú vật, dphố xá, nhà cửa... Cái thấy đó gọi là cái thấy Tục đế.
Cái thấy Chân Đế: về Vật chất chỉ có Đất - Nước - Lửa - Gió, Sắc tố Nam, Sắc tố Nữ / hóc-môn Nam, hóc- môn Nữ. Bên Tục đế thì có người Lào, người Nhật, người Thái, người Đức,... có Nam, nữ, mập ốm trắng đen, già trẻ, đẹp xấu, cao thấp,....
Nếu nói theo Chân đế thì không có gì là chủ quyền. Tất cả do duyên mà có, cũng do duyên mà mất đi. Bên Tục đế thì có: Màu cờ sắc áo, xác định chủ quyền lãnh thổ biên cương đất nước, quyền sở hữu cá nhân, như dòng họ, gia đình, đây là vợ tôi, con tôi, nhà tôi, xe tôi...ai đụng tới là pháp luật can thiệp; trong đạo thì người xuất gia khỏi nói rồi, người cư sĩ thọ Tam Quy Ngũ giới không được quyền chiếm hữu, sang đoạt, trộm cướp vật mà xã hội đã xác định chủ quyền thuộc về ai đó. Chúng ta chỉ có quyền sở hữu, sử dụng, đổi chác, mua bán đối với những thứ vật chất, tình cảm mà xã hội và pháp luật bảo hộ, thiên hạ đồng ý. Chứ còn nhà cửa, hoặc cuộc hôn phối được xã hội, pháp luật xác nhận mình đụng tới là không được.
Nếu nói rốt ráo, ngay cả ngoài đời, trong thế giới khoa học đâu có gì gọi là chiếc xe, cái nhà, gồm những nguyên tắc vật lý, hóa học, những thành tố hóa chất+ Tế bào thực vật, động vật, nguyên tắc sinh học, vật lý,...làm nên máy móc, nhà cửa, thực vật, khoáng vật. Chỉ vậy thôi. Trong khoa học không có pháp luật. Xã hội chỉ khoa học thì không được, phải có lịch sử, văn học, triết học, tôn giáo, phải có luật này luật kia, luật giao thông, luật kinh tế....
Luật Nhân quả: Khi tâm bất thiện xuất hiện hậu quả để lại là nỗi khổ niềm đau sau này - trên Chân đế. Hễ có tâm lành thì sau này mình có những cảm giác dễ chịu.
Luật Nhân Quả trên Tục đế: Mình cà chớn thì công an còng, thấy ghét thì thiên hạ rủa, ném đá mình.
Đó là nói một cách nôm na cho người không biết gì.


Hỏi:
Nghiệp hành thiền Minh Sát có cho quả tái sinh không?
Đáp:
Hễ chưa là La Hán tất cả tâm lành đều có khả năng cho quả tái sinh. Nếu còn Dục ái, tâm lành đó cho quả đầu thai cõi Dục. Nếu không còn Dục ái thì tâm lành đó không thể đưa về cõi Dục được. Hết Dục Ái phải tái sinh về cõi Phạm thiên.
Tu Tứ Niệm xứ hay đi chùi cầu.
Sẵn tôi nói luôn.
Họ tưởng hành thiền Minh sát là kiểu hoạt động riêng. Thật ra thiền Minh sát đúng nghĩa chuyện mình ngồi yên theo dõi hơi thở cũng là thiền Minh sát, theo dõi Tâm, theo dõi Thọ cũng là thiền minh sát. Mình đi chùi cầu, rửa chén, lau dọn,.. tất cả sinh hoạt bằng chánh niệm cũng là thiền Minh sát.
Người này hiểu lầm là thiền minh sát là phải mặc áo đồng phục Pa Auk, đi kiểu lừ đừ như mới xuất viện, từ thiền viện nào đó tới đó tu hoặc từ đó về rồi tu theo trường phái lừ đừ mới là Thiền Minh sát. No.
Thiền minh sát = Vẫn sinh hoạt bình thường nhưng hoạt động chánh niệm trong hoạt động của 6 căn - thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng của 6 căn.
Tôi nghi họ hiểu Thiền minh sát là những hoạt động đặc biệt: Đi lừ đừ, ngồi lim dim, ăn uống kiểu lập dị - hả họng từ rằm tháng giêng tới vu lan cơm mới vô tới, nhai xong là rằm tháng 10.
Tu Tứ niệm xứ là sinh hoạt bình thường. Thay vì trước đây thì chân đi đầu nghĩ chuyện khác, miệng nhai đầu nghĩ chuyện khác; còn giờ mình hết mình với hoạt động đó. Dầu anh chùi cầu, rửa chén hễ bằng chánh niệm được gọi là Tứ Niệm Xứ.
Đã là tâm lành, tâm thiện dứt khoát cho quả tái sinh về cõi lành.


Hỏi: Tâm quan sát bất thiện làm tâm tục sinh về cõi đọa. Tâm này có từ trong một lộ ngũ kiếp trước hay là do nghiệp từ quá khứ trổ ngay lúc tục sinh?
Đáp:
Học A Tỳ Đàm bắt buộc biết 4 loại nghiệp:
• Hiện nghiệp = Nghiệp có khả năng trổ quả đời này.
• Sanh báo nghiệp = Bắt buộc trổ quả kiếp sống ngay đời này, thí dụ mấy vị đắc thiền chết về Phạm thiên, hoặc tạo Ngũ nghịch đại tội giết cha, giết mẹ, giết La Hán - sau kiếp này bị đọa, có người tạo nghiệp rồi chết luôn, có người tạo nghiệp mấy chục năm mới chết.
• Hậu báo nghiệp = Nghiệp cho quả sau đời thứ 2 trở đi.
• Vô hiệu nghiệp
Nếu nói vậy thì Tâm quan sát này có nhiều: Một là được tạo từ một tiền kiếp nào đó xa hoặc gần; hoăc là được tạo ở kiếp sống này.
Học A Tỳ Đàm mà không biết 4 loại nghiệp này.


Hỏi: Trong quá trình thực hành Tứ Niệm Xứ, sự Chánh niệm tỉnh giác là ghi nhớ thực tại, vậy có cần vừa theo dõi hơi thở vừa ghi nhận thực tại hay không? Hay bỏ qua việc theo dõi hơi thở?
Đáp:
Tu Tứ Niệm xứ là Chánh niệm với cái gì nổi bật nhất. Hết.
Thí dụ, tôi đang đi thì tôi tập chú vào cái đi. Cái đi lúc đó là nổi bật nhất. Lúc đó có cơn giận, một sự sợ hãi xuất hiện thì lúc đó cái nào nổi bật thì ghi nhận cái đó thôi. Khi không có việc gì làm thì về nằm yên, nằm nghỉ thì chú ý cái khác: Thân (theo dõi hơi thở), Thọ (cảm giác), Tâm (tâm trạng), Pháp (gom 3 cái kia lại một cách chuyên môn, có kiến thức giáo lý).mỗi người thích hợp đề mục niệm xứ nào. Quan trọng nhất vẫn là cái nổi bật. Không thể nào có một lúc 2 cái là tuyệt đối không có. Cái gì nổi bật nhất. Thí dụ, tôi ngồi yên, theo dõi hơi thở, đang ngồi nghe cái đùng có 2 cách: 1 ghi nhận cái nghe, nhĩ thức đang làm việc. Hai là ghi nhận tâm sân, sợ; hoặc ghi nhận cảm thọ - khó chịu. Ghi nhận xong xuôi tôi bèn quay trở lại hơi thở tiếp tục. Hoặc tôi đang ngồi thiền mà nghe mùi lạ thì ghi nhận mũi đang làm việc, hoặc ghi nhận tâm – tâm này là tâm sợ hãi, hoặc ghi nhận cảm giác - khó chịu. Sau đó tôi mới xả cái chân tôi ra, đi xác định coi mùi này là mùi gì, có phải lò ga rò rỉ hay không, hay nghe mùi khét tấm thảm gian thờ bị cháy, hay nghe tiếng động chắc cửa sổ bị bung là mình phải đi gài lại.
Không phải thiền là lìa bỏ thực tại.
Người hành thiền rất tỉnh táo, cẩn trọng nhưng không lăng xăng. Từ lúc ngồi đến lúc thả chân đi kiểm tra là chánh niệm. Chánh niệm tuyệt đối. Chánh niệm trong cái gì nổi bật.


Hỏi: Một người làm việc ác thường xuyên thì đó có phải gọi là Thường Cận Y Duyên không? Hay chỉ làm việc thiện thì mới được gọi là Thường Cận Y Duyên.
Đáp:
Thiện, ác đều là nghiệp hữu lậu. Nghiệp hữu lậu đều do thói quen hình thành. Thường Cận Y là từ chuyên môn nhà Phật chỉ cho Thói quen.
Luật Nhân Quả có 4:
• Nhân tạo ra Quả ;
• Quả tác động Quả: Khi nhận quả này mình có điều kiện nhận quả khác.
• Quả tác động Nhân: Khi mình nhận Quả này mình dễ tạo nhân thiện/ nhân ác nào đó. Nhiều khi mình nhận quả nào đó đầu thai, có mặt chỗ nào đó mình có điều kiện làm thiện/ làm ác dễ hơn.
• Nhân tác động Nhân : Làm thiện nhiều mai mốt làm thiện dễ hơn. Làm ác nhiều quá thì cái ác trước làm nền cho cái ác sau tạo ra sức đẩy. Cả 2 cái đều gọi là Thường Cận Y.


Hỏi: Xin Sư định nghĩa phân biệt 2 chữ saṃsīdati và samāpatti, và giải thích sâu rộng thêm về liên hệ của 2 khái niệm này với đời sống của chúng sinh.
Đáp:
Cái này nên hỏi riêng.
Bà con cẩn thận với ChatGPT. Có nhiều việc ChatGPT làm việc rất hay, có nhiều chỗ mình phải cẩn trọng vì nó rất ẩu. Tùy số tiền mình bỏ ra mua bao nhiêu thì giá trị đồng tiền đó quyết định chất lượng câu trả lời từ ChatGPT.
2 chữ này, tùy chỗ mà dùng. Trong đời sống của chúng sinh cả 2 chữ này mình tham dự, thâm nhập hay tập chú. Vì tôi muốn mượn vụ ChatGPT mà tôi nói thôi. 2 chữ nay không thiện không ác gì hết, tùy chỗ mà dùng.
Thí dụ, Việt Nam có chữ “ăn” có trường hợp mình ăn mình khỏe, có trường hợp mình ăn mình bệnh, không phải trường hợp nào ăn vô cũng tốt.
saṃsīdati hay samāpatti y chang vậy. Hễ trường hợp bất thiện nó là bất thiện, trường hợp thiện nó là thiện.


Hỏi: Nghiệp và quả báo của nghề xem bói, xem phong thủy trong hiện tại, tương lai? Tại sao các môn thần số, bát tự lại đúng giải mã về tính cách, nội tâm, thời gian trổ nghiệp?
Đáp:
Có 2 chuyện mình phải nhớ trong câu hỏi này:
1. Có lòng lừa dối tranh thủ niềm tin nhẹ dạ của người khác để gạt gẫm, kiếm tiền bằng cách làm thầy phong thủy, đoán chiêm bao, coi tướng, coi bàn tay, ... có lòng lừa dối là nghiệp bất thiện. Trường hợp mình có nghiên cứu, đam mê, PHẢI LÀ CƯ SĨ, chứ ông sư là không được quyền đụng mấy cái này, nếu là cư sĩ mình trót/lỡ thích, lỡ hiểu biết, nghiên cứu trong nhiều buổi nói chuyện với bạn bè hoặc có những trường hợp tới nhà người ta với kiến thức mình thấy như vậy không được thì mình nên góp ý với lòng từ thì có phước không có tội. Còn có ý lừa dối gạt gẫm, lừa đảo bất chấp người ta bị hay được cái gì là bất thiện.
2. Chưa có một dòng chữ nào trong kinh đức Phật dạy mấy thứ bàng môn tả đạo này là sai bét. Ngài chỉ nói đạo Ngài là đạo Giải thoát, Ngài chỉ nói cái gì dẫn tới Giải thoát. Phủ bác thì không. Vì thứ thầy bói mù, lang băm mình không nói, còn thầy thứ thiệt thì phải nói trên đời tất cả học thuật, xem mộng, bói toán, xem tướng bùa chú, võ thuật, phong thủy,... chỉ không dẫn đến giải thoát, nó có chỗ ảo diệu của nó.
Phong Thủy không chỉ có ở Tàu. Có điều ở Ấn Độ, bên Châu Âu người ta kêu nó bằng tên khác. Bên Tàu thì dựa Ngũ hành, Bát quái, Thế đất để họ coi Phong thủy. Châu Âu từ ngàn xưa cũng có phong thủy, đặc biệt là xứ nông nghiệp như Thụy Sỹ, Pháp, Đức - họ không có ruộng nước nhưng họ trồng bắp, đậu, cà rốt, khoai tây, các thứ rau,... họ không thủy canh họ cũng có phong thủy của họ. Ngày xưa lùa thú vào hẻm núi nào mà họ thấy tụi nó lăng xăng, uống nước, nhảy, vui vẻ, ăn uống,... thì họ ở, còn tới đó mà thấy nó hoảng chạy tan tác loạn hàng là họ lùa nó đi chỗ khác. Vì tụi nó cảm nhận được năng lượng, từ trường xấu nào ở chỗ đó. Ở đó là nó bệnh dịch chết hàng loạt. Đó cũng là phong thủy đó, vùng đất đó không tốt.
Còn Châu Á như Tàu, Việt, Nhật Bản, Đại Hàn, Cao Ly, Triều Tiên, họ vẫn có phong thủy của họ. Bên mình có những khái niệm khoa học cũng đồng ý, thí dụ như Tàng phong tụ thủy – gió cuốn, nước dồn về khái niệm đó bên Âu Mỹ biết, có những chỗ sinh hoạt mà cần gió cần nước là tốt thì chỗ đó nhiều gió nhiều nước càng tốt, thì khái niệm tàng phong tụ thủy rất tốt; Khái niệm - Long mạch Âu Mỹ không có, nhưng nó có khái niệm Tàng phong tụ thủy; nó có khái niệm gió - làm thoáng, nắng - nuôi dưỡng cây cỏ tốt hơn. Khoa học bên Y cũng nhìn nhận lục phủ ngũ tạng bị gì dễ nằm chiêm bao. Người bệnh gan dễ nằm chiêm bao, hoặc người bệnh thận dễ chiêm bao thấy đi tiểu.
Nôm na. Có 2 câu trả lời:
• Có lòng hại người thì có tội. Có lòng giúp người không có tội.
• Những chuyên ngành này không phải là sai bét, nó có cái hay cái đúng, vấn đề mình có gặp người giỏi và có nên dành thời gian cho nó thay vì học, hành giáo lý lời Phật?


Hỏi: Vì sao tâm Si Phóng dật không được xếp vào pháp không dẫn đến sanh tử và cũng không dẫn đến giải thoát?
Đáp:
Trong 14 tâm sở bất thiện, tâm sở nào cũng tạo ra tâm tái sinh. Riêng Phóng dật là sự thiếu tập trung, các ngài giải thích vậy, nó không hướng tới cái gì, như viên đá liệng vô đống tro nó bung lên. Chính vì nó không hướng tới cái gì nên nó không tạo nghiệp tái sinh.
Tại sao không dẫn giải thoát? Dễ hiểu rồi. Vì nó bất thiện thì không thể dẫn tới Giải thoát.


Hỏi: Chánh kinh Kutadanta (Trường bộ) và kinh Vemala (Tăng chi) cả 2 bài đều nói rằng “việc thọ trì 5 giới thù thắng hơn việc quy y” (lời của Đức Phật). Nhưng trong Chú giải kinh Kutadanta thì có nói rằng "việc đi đến nương nhờ là to lớn hơn năm giới". Ở đây có sự mâu thuẫn nào không?
Đáp:
Không.
Trong chú giải có nói thế này:
Tam Quy = Lòng nương nhờ nơi Phật, nơi Pháp, nơi Tăng. Quy y Phật không theo Tà sư. Quy y Pháp không theo Tà đạo. Quy y tăng không theo Ác hữu.
Ở Phàm phu dầu có Tam Quy Ngũ giới gì không bằng vị Thánh Tu Đà Hườn. Khi nghe cái này không bằng cái kia phải hiểu là của phàm không bì được với của Thánh. Thí dụ, trong trường hợp nào mình thấy quả lành của Tam Quy không bằng Ngũ giới? Thì phải hiểu Tam Quy ở đây là của Phàm Phu không bì được với Ngũ Giới. Hoặc có chỗ Ngũ giới không bì với Tam Quy thì phải hiểu là Ngũ giới của phàm. Nó không bì được với Tam Quy của vị Tu Đà Hườn.
Giải thích hai - Phải coi Ngũ giới là cái gì? Không sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối và say sưa.
Nếu nói theo Khía cạnh thì Tam Quy thuộc Trí Tuệ, Niềm tin; Trong khi Ngũ giới cụ thể hơn gồm: Từ Bi, Tàm Quý, Niềm tin, Chánh niệm, Trí tuệ... Muốn giữ Ngũ giới phải huy động toàn bộ hạnh lành trong đầu mình. Nôm na là 25; Tam Quy chỉ đơn giản là Niềm tin, Trí tuệ thôi. Thí dụ một người không làm gì hết ăn rồi niệm Phật hoài không có phước của người chuyên tâm giữ 5 giới. Dù người đang chuyên tâm niệm Phật họ đâu có phạm 5 giới nhưng cái đầu họ lúc đó chỉ tập chú ở Tam Bảo thôi. Trong khi người giữ 5 giới là họ cố ý kiêng tránh trong những trường hợp làm tội lỗi.
Hỏi cái nào hơn cái nào thì tùy. Tam Quy của Phàm phu không bì được với Tam Quy của Thánh Nhân (Tu Đà Hườn). Ngũ giới của Phàm phu không bì được với Ngũ giới của Thánh nhân (Tu Đà Hườn). Hiểu hai cái này tự nhiên hiểu câu hỏi này.


Hỏi: Khác biệt giữa Tứ Trưởng và Tứ Như Ý Túc. Khi nào gọi là Tứ Trưởng, khi nào gọi là Tứ Như Ý Túc?
Đáp:
Tứ trưởng = Trong mọi trường hợp thiện ác, miễn nó có mặt gọi là Tứ trưởng.
Tứ Như Ý Túc Chỉ trong trường hợp làm việc lành. Iddhipāda - Iddhi - ước mơ, mong mỏi, đâu ai ước mơ chuyện tầm bậy.
Cũng là mấy cái này nhưng trong pháp thiện gọi là Tứ Như Ý Túc, còn cả thiện ác nói chung gọi là Tứ trưởng.


Hỏi: Một người làm việc trong các sòng bài hay các trang cá độ online có coi là tà mạng, tà nghiệp không?
Đáp:
Vẫn là câu trả lời hồi nãy.
Chuyện đầu tiên - Trong sòng bài mà khâu làm việc của mình là khâu nào? Mình chỉ đi chùi cầu, quét dọn, đi phục vụ, bưng bê thì khác. Còn mình tham gia tham dự vào trò đỏ đen lừa bịp thì khác.
Trong lúc mình làm việc có vui theo chuyện người ta sát phạt nhau không?Bản thân mình có thích sát phạt và có vui theo chuyện sát phạt hay không? Công việc mình ở những nơi đó là gì. Đâu phải làm sòng bài là nghiệp giống nhau. Trong đó anh bưng bê thực phẩm hay chùi cầu rửa chén, lau dọn,... Chuyện quan trọng nhất, anh chỉ vì mục đích mưu sinh nó khác. Anh thích thú trong lừa đảo, sát phạt cho người ta bán nhà, nhảy lầu, tan nhà nát cửa là chuyện khác.
Câu trả lời gồm có 2:
• Anh làm việc gì ở sòng bài? Chứ không phải có mặt sòng bài là bậy. Giống như nói có mặt ở chùa là người thiện thì tôi không tin. Vô chùa đi ăn trộm, đi đâm thọc, lừa đảo đâu phải là tốt.
• Thứ hai, Anh có lòng lừa đảo, sát phạt, hại người không?


Hỏi: Những vị mới xuất gia thì nên đọc tam tạng kinh điển theo trình tự như thế nào cho phù hợp?
Đáp:
Phải mua Kalama. Theo quan điểm chủ quan của tôi nha.
Kinh điển mênh mông.
Tạng Kinh của ngài Minh Châu, tạng Luật của ngài Chánh Thân, Tạng A Tỳ Đàm của Ngài Tịnh Sự. Nếu nhắm đọc nổi thì đề nghị đọc 3 nguồn tôi vừa nói.
Nếu nói trong tình thân thì tùy hỷ, các vị tu với ai, với sư phụ nào, sư phụ có cảm tình với ai đề nghị cuốn đó.
Hỏi tôi thì tôi đề nghị có nguyên bộ Kalama vì là những bài kinh tuyển chọn cho những người cực kỳ sơ cơ.
Đi tu phải có sư phụ chứ. Hỏi coi sư phụ thích ai. Việt Nam có nhiều tác giả lớn: Duy Tuệ, Minh Niệm, Nguyễn Nhân, Thông Lạc... nhiều khi không cần học nhiều theo hạnh nào đó, thí dụ ngài Minh Tuệ giờ đi Ấn Độ đó.
Tùy duyên. Chúng tôi chỉ gợi ý thôi. Chúng tôi không phải khuôn vàng thước ngọc để các vị theo đâu.


Hỏi: Trong cuộc thảo luận giáo pháp cần chú ý những điều gì? Để tránh tình trạng không hay mà lại có kết quả tốt.
Đáp:
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật dạy rất rõ: Khi gặp nhau chỉ có cùng im lặng thiền tịnh hoặc bàn về giáo pháp. Thứ hai, Ngài có nói, cái gì là tiểu tiết không ảnh hưởng đến nghĩa lý kinh điển hãy để nó qua một bên, đừng đào sâu những chuyện không đáng dẫn đến cuộc thảo luận đi về những xung đột.
Kinh Ngưu Giác Lâm, các Ngài dạy: Mỗi người có sở trường, sở đoản riêng. Nên đem sở trường chia sẻ; Học tập người khác để lấp sở đoản của mình
Chuyện đầu tiên là dầu nói chuyện với người bằng mình, hơn mình lúc nào cũng phải khiêm cung một cách thật thà. Dầu mình có giỏi bằng trời, chỉ cần mình còn là phàm, cái giỏi mình phải xét lại. Dầu thuộc lòng kinh điển, miễn còn phàm thì cái biết của mình phải xét lại. Vì hôm qua với hôm nay mình hiểu khác; chưa kể trên đầu của mình những người họ hiểu sâu hơn, rộng hơn mình.
Trong bất cứ cuộc đối thoại nào, nghệ thuật đầu tiên là lắng nghe. Ham nói muốn người ta nghe là bậy rồi. Lẽ ra nên nghe nhiều hơn nói. Nghe mới có cái bỏ túi. Mình nói, toàn là mình xả rác.


Hỏi: Vì sao người Đoạn kiến khi ở Đạo giác ngộ nhanh hơn người Thường kiến?
Đáp:
Người Đoạn kiến có gan cắt bỏ những cái không cần thiết. Họ không dễ dàng tin ông Tư, ông Tà, bái sám, thần tiên, quái dị, thủy quái chằn tin, họ không mất thời gian cái đó. Cái gì họ thấy hợp lý họ theo cái đó thôi. Họ thấy pháp môn Tứ niệm xứ là họ cắm đầu theo Tứ Niệm Xứ thôi. Còn người Thường kiến trong phòng riêng phải có thờ Phật, thờ thần, thờ tiên, thờ thần tài, thờ ngài Sivali,... mất thời gian lắm; Kiếp sau mong về cõi này cõi kia, được cái này cái nọ.
Ông Đoạn kiến, nói chuyện kiếp sau hờ hững, hiện tại ổng không mất thời gian ba cái mất thời gian ba chuyện quàng xiên, dị đoan; Khi hiểu đạo ổng đi thẳng đường.


Hỏi: Các vị Phật, các vị La Hán nhập Niết Bàn có quay lại độ thế được không?
Đáp:
Không còn điều kiện tái sinh thì quay lại bằng kiểu gì? Ngọn lửa không còn nhiên liệu, tắt thì làm sao ngọn lửa quay lại được? Đó là cách giải thích rất nôm na, theo kinh Tiểu Bộ, bài kinh Tam Bảo, đoạn cuối có nói rằng, các Ngài khi lòng dục hưởng thụ, dục hiện hữu, dục sở hữu không còn thì Khīnaṁ puranaṁ navaṁ natthi sambhavaṁ - Duyên cũ, chủng tử cũ không còn, duyên đầu thai mới cũng không có, mấy vị như ngọn đèn hết nhiên liệu tự nhiên tắt.
Bên Nam truyền không có vụ hoàn nhập sa bà, hóa độ chúng sinh. Vị chứng La Hán Niết Bàn rồi không quay lui.
Một chuyện nữa nghe kỳ, người không quen nghe không chịu nổi cái này: A La Hán nào cũng có đại bi, từ Phật tổ Như Lai đến vị sa di 7 tuổi chứng La Hán. Đại bi của các Ngài không như mình nghĩ, hoàn toàn có thể on/off; Khi nghĩ về khía cạnh A thì thương nhưng nghĩ khía cạnh B lòng nguội lạnh. Còn mình không có khả năng đó, mình chỉ có thích, ghét thôi. Cả 2 cái thích và ghét là phiền não hết. Các Ngài một là Đại Bi, Đại Từ. Hai là Đại Trí. Đại Trí là các Ngài xét trên mặt rốt ráo tất cả chỉ là những đơn vị pháp giới do duyên mà có rồi cũng do duyên mà mất đi, chớp tắt, chớp tắt. Cho nên,hễ còn sống, chưa tới ngày tịch một là thấy người ta khổ, hai là người ta hữu duyên thì các Ngài độ. Độ xong thì thôi.
Trong Kalama 4 chúng tôi có trích lục bài kinh đó. Đức Phật Ngài dạy: Ta không có gì hoan hỷ khi có người lắng nghe ta, chứng đắc như lời ta dạy. Ta cũng không có dao động buồn phiền khi có người chống đôi ta, làm ngược lại lời ta ta cũng không có ảnh hưởng gì hết. Việc phải làm thì ta làm thôi.
Ta không hoan hỷ theo kiểu thế gian, nay mình có thêm đệ tử, ta có thêm tri kỷ, có người hiểu ta,... không có. Các Ngài vì lòng Đại Bi thì thấy người này có duyên, nếu được nghe pháp thoại sẽ đắc Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, thì các Ngài không muốn bỏ lỡ cơ hội của người ta, thế là các Ngài thuyết pháp. Xong việc thì thôi.
Khi cần các Ngài thương chúng sanh như mẹ thương con. Khi cần các Ngài lạnh ngắt như mình nhìn đống cát. Thấy nguyên đống cát thì biết lát gió thổi, mớ nằm đây mớ đi xa. Biết vậy thôi. Chứ không nặng nề như mình nghĩ. Mình thì sư phụ ngáp ngáp đệ tử bu lại nắm tay nắm chân sư phụ ơi sư phụ à nhớ hội nhập sa bà để tế độ chúng con, quay lui bể khổ thầy trò còn trùng phùng tao ngộ. Cái đó là do suy nghĩ của mình thôi.


Hỏi: Vì sao ông Cấp Cô Độc dù đã chứng Sơ Quả lại không nhập thiền Quả để tránh cơn đau bởi trọng bệnh trước khi lâm chung? Có phải các vị Sơ Quả đều có thể tự tại nhập thiền quả nhanh, chậm, dài, ngắn theo ý muốn?
Đáp:
Như ý muốn là không có. Vì căn cơ mỗi vị không giống nhau sao có vụ như ý muốn được.
Trong kinh phải nhớ những câu chuyện kể về ông Cấp Cô Độc hoặc vị thánh này thánh kia là kể theo ngôn ngữ Tạng kinh: Lúc bấy giờ ông A, bà B bị bệnh đau đớn... nói cho ngôn ngữ thế gian hiểu.
Theo A Tỳ Đàm, vị thánh thấp nhất là thánh Sơ Quả không còn thân kiến, người ta không coi Tôi đang bị đau, Cơn đau này là của tôi,... người ta không còn cái đó nữa; người ta biết chắc họ không đọa, người ta không đau như mình nghĩ.
Trong kinh tạng có mẫu câu diễn tả chung cho các tình huống, thí dụ ngài Xá Lợi Phất bệnh, đức Phật bệnh, ngài Anan bệnh, ông Cấp Cô Độc bệnh,...sẽ có mẫu câu: Lúc bấy giờ A, B, C, F đang bị lâm trọng bệnh đau đớn trầm kha, vị đó đang đối diện với cơn đau chí mạng.
Thật ra vị Tu Đà Hườn như ông Cấp Cô Độc có khả năng nhập thiền Quả. Gọi Nhập cho sang chứ ống chỉ hướng tâm đến cảnh Niết Bàn. Thứ hai là trong kinh nói đau đớn chứ ổng không đau như mình.
Ổng có 3 cái ổng không như mình:
• Ổng không có Thân kiến, không nghĩ: Tôi bị đau, cơn đau này của tôi. Ổng tách cơn đau ra khỏi tâm ổng, không dồn cục nặng nề như Phàm phu.
• Thứ hai, ổng biết chắc ổng không bị đọa; Trong khi mình vừa đau, vừa sợ, vừa tiếc của vừa thương nhớ chồng con... vị thánh không có. Cái gì họ cũng buông được và biết chắc họ không bị đọa.
• Thứ ba, vị thánh Tu Đà Hườn, tầng thánh thấp nhất họ có mối quan tâm lớn hơn là cơn đau và sinh mệnh. Trong khi phàm phu mình không được cái đó.
Mình nói mình tu cho ghê thật ra lúc cận tử, trọng bệnh, hai cái đó mới là cái quan trọng số 1. Nếu có thêm thì tiếc của, thương nhớ vợ chồng con cái người thân, nói chung cái gì mình nặng lòng toàn cái tầm bậy. Còn vị Tu Đà Hườn chuyện đầu tiên người ta không còn thân kiến, thứ hai người ta người ta biết chắc người ta không bị đọa; thứ ba là người ta có những chuyện người ta quan tâm nhiều hơn, thí dụ người ta có thể niệm Phật, người ta chỉ cần nghĩ tới Phật là da gà lên cuồn cuộn, nghĩ tới Niết Bàn là người ta lắng xuống liền, nghĩ về duyên khởi, Tứ Đế là người ta khỏe ru. Còn mình thì không. Mình Thân kiến còn nguyên, lòng bị đọa, và đề tài tư duy, sự nặng lòng mình lúc cuối toàn chuyện tầm bậy.


Hỏi:
Đức phật có khuyến khích việc xuất gia không? Việc ăn trứng (không có thức - không có sự sống) thì có tạo nghiệp sát sanh không?
Đáp:
Đức Phật có khích lệ xuất gia không? Tùy duyên. Có người Ngài biết rằng họ chỉ thích hợp đời sống cư sĩ thì Ngài là Phật Tổ Như Lai mà. Họ biết có những người cái duyên, phước của họ chỉ là cư sĩ thôi, thì Ngài không nhắc tới chuyện xuất gia. Rồi có những người Ngài thấy duyên, phước của họ thích hợp xuất gia, nhờ xuất gia họ sẽ tu tập tốt hơn Ngài mới gợi ý chuyện xuất gia. Chẳng hạn, Ngài có những câu nói: Đời sống tại gia lắm đầy bụi đời, không thể thực hiện Phạm hạnh thanh tịnh như vỏ ốc xà cừ được. Hạnh phúc thay đời sống vị xuất gia đi đâu cũng như cánh chim, đi đâu cũng chỉ có cái mỏ và đôi cánh thì người xuất gia đi đâu cũng chỉ có bình bát và lá y. Có nhiều chỗ Ngài nói như vậy. Nhưng Ngài chỉ nói cho người nào mà Ngài xét thấy họ có duyên với lá y ca-sa và họ sẽ có những thành tựu tốt hơn nếu họ xuất gia; còn người nào Ngài xét thấy họ không có duyên xuất gia, hoặc họ đi xuất gia họ tệ hơn họ là cư sĩ thì Ngài không khích lệ.
Phải nói rõ ràng như vậy. Đừng có mà nói Đức Phật khích lệ hay không khích lệ thì không nên. Phải nên chia 2 như vậy. Ngài chỉ khích lệ trong trường hợp cần thiết.

Phải hỏi mấy tay trại chủ, hỏi mấy ông bác sĩ, dược sĩ chứ tui nói thiệt, bên Thụy Sỹ có 2 loại trứng, một loại trứng bio – trứng gà thả rông, thả đi lang thang ngoài cỏ ngoài đất muốn ăn gì thì ăn, tối nó chui vô chuồng nó ngủ, sáng nó bung ra tùm lum. Bản thân tôi thấy nó để chỗ nhiệt độ lạnh như vậy có lẽ nếu có trống chắc con chết rồi; Còn loại trứng thứ 2 là trứng gà công nghiệp, không thả rông mà nuôi trong trang trại mênh mông gắn bóng đèn, có máng cho ăn thức ăn chế biến, bằng công nghệ.
Trứng bio đắt tiền hơn tí. Về khoản này tôi nghĩ phải hỏi mấy người chuyên môn. Nếu mình xác định rằng loại trứng nào có trống thì không nên ăn, mình ăn là tiêu diệt mầm sống. Nếu mấy bác sĩ, trại chủ, mấy người có chuyên môn xác định nó không có trống thì theo tôi chuyện đó không thành vấn đề.
Bên nước ngoài đang hình thành một số trường phái ăn chay cực đoan, vegan veggy tránh xa tuyệt đối thực phẩm có nguồn gốc động vật như là phô mai, bơ, sữa tươi, trứng. Mấy cái này họ không đụng tới. Tôi nghĩ có chút cực đoan.
Mình tu, nhớ 3 chuyện trong chuyện ăn uống:
• Không cầu ăn ngon
• Người tu không có sát ý – không tự giết, không khích lệ người khác giết, không vui khi ai đó giết.
• Người tu phải biết trân quý thời gian: ăn gì, mặc gì, ở đâu... ít tốn thời gian nhất, ít tốn công sức nhất. Để dành thời gian, công sức tu tập.
Căn cứ trên kinh điển, bữa ăn hội đủ 3 cái này, trong kinh siha có nói, thì bữa ăn đó vô tội. Còn bữa ăn dính 3 cái này thì bữa ăn đó có lỗi với đạo, có lỗi với bản thân, có lỗi với Thế Tôn.
Bữa ăn mất thời gian của mình và của người. Các vị về Kalama có người nấu ăn, mà mình đày đọa người nấu ăn quá, bắt họ mỗi ngày phải phục vụ chè hột sen nhồi nhãn, chè hột me ... thứ mà phục vụ cho 10 người phải chuẩn bị cả tuần lễ thì không được.


Hỏi:
Kiến thức phật học cơ bản tối thiểu là gì để hỗ trợ cho việc xuất gia tại các nước quốc giáo như Myanmar, Thái lan, Sri Lanka. Các nước đó có yêu cầu làm giới tử lâu giống như ở Việt Nam không?
Đáp:
Bên mấy xứ quốc giáo có mấy trường hợp: Xuất gia gieo duyên & Xuất gia dài hạn.
Quốc giáo thì các vị biết rồi. Trước khi họ là ông sư họ đã thuộc hết một mớ kinh Pali rồi. Lúc cư sĩ họ đã thuộc một mớ rồi. Gieo duyên họ chỉ tu 3 tháng, 2 tháng, nhiều khi họ tu 1 tuần, 3 ngày, ... theo tôi biết chỉ có mấy hạng đó thôi. Trường hợp này không đòi hỏi, không yêu cầu bắt buộc. Vì họ đi là để gieo duyên thành người cư sĩ tốt hơn, ra là bắt buộc phải hiền hơn tí rồi đó.
Còn trường hợp tu dài hạn, mình phải nói rõ: Hầu hết mấy xứ đó người ta coi nặng chuyện đào dưỡng kiến thức cho chư tăng. Đó là trên nguyên tắc. Nhưng trong thực tế phải biết. Có những chùa Khmer, chùa Thái, chùa Lào, chùa Miến Điện, vùng sâu vùng xa, họ cần ông sư để giữ chùa, cho Phật tử lui tới gặp gỡ màu y vàng, vậy thôi. Chứ còn vùng sâu vùng xa người xuất gia hiếm, không có nhiều. Loe ngoe, trong làng chừng 5, 7 ông sư vô tu là mừng muốn khóc rồi. Chỉ cần cho mấy ông đi học là chùa không còn ai. Khổ vậy đó.
Cho nên, mình phải nói đàng hoàng.
Một là người gieo duyên thì không quan trọng. Hạng thứ hai là những vị vùng sâu vùng xa không có điều kiện đi lại, nói trắng ra là tiền bạc là trụi lủi, Phật tử còn nghèo hơn mình nữa mà. Cho nên, hai trường hợp này không phải gì hết.
Trường hợp thứ ba nằm ngoài 2 cái này có nghĩa là xuất gia dài hạn và ở nơi chốn có điều kiện thì có thể nói, theo chỗ tôi được biết, chỉ cần chư tăng nằm ngoài 2 trường hợp đó thì đều được khích lệ triệt để chuyện trau dồi giáo lý. Vì sao? Vì nó là mạng mạch tông môn. Đó là mạch máu, xương tủy của đạo. Tối thiểu bên Miến Điện một ông tăng tỳ kheo mới thọ giới bèo bèo là bằng 4 năm Phật học – Dhammacariya – Pháp sư, trong đó bắt buộc khả năng đọc hiểu tiếng Pali, căn bản A Tỳ Đàm, căn bản Tuệ Quán, căn bản luật tạng. Nói chung phải có căn bản hết, nhưng quan trọng nhất, tôi thấy vị ấy có 2 khả năng quan trọng: Đọc hiểu Pali và kinh nghiệm Tuệ quán. Kinh nghiệm = có học thiền, tu thiền.
Bên đó Dhammacariya tối thiểu có cái đó. 4 năm nhanh lắm, ra là bảo đảm xài được. Vị này dầu đi cùng trời cuối đất Phật tử hỏi đạo cái nào không biết thì thôi chứ không nói bậy. Thứ hai là mấy ông sư Miến Điện mình yên tâm chỗ này, nếu mình là người Việt Nam mà mình nói đúng thì mình với Miến Điện không có chỏi. Còn xứ khác mình không chắc. Xứ khác ông sư A nói chuyện đó khác, ông sư B nói chuyện đó khác. Miến Điện thì không. Miến Điện có một cách một thôi. Miễn mình đừng nói trật thì bảo đảm từ ngài Tăng thống đến mấy ngài thiền sư, học giả đều phải nói giống như mình thôi. Miến Điện có điểm độc đáo đó.


Hỏi:
Có tạo nghiệp sát sinh không khi cắt cỏ trong chùa có thể làm chết hoặc tổn thương các côn trùng không nhìn thấy ở bên dưới, dù trong lúc cắt cỏ có rải tâm từ.
Đáp:
Không thể nào có chuyện lấy búa gõ đầu người ta rồi rải tâm từ. Chuyện đó không có. Không bao giờ.
Giờ chỉ có cái này. Rốt ráo.
Giữ giới rốt ráo, giữ giới triệt để, từ bi rốt ráo, từ bi triệt để thì dứt khoát không đốt lửa, đào đất, đốn cây, nhổ cỏ. Nói chung là mấy cái luật cấm tỳ kheo đó: đào đất, nhúm lửa, đốn cây, nhổ cỏ. Nếu mình là cư sĩ mà mình rốt ráo vậy thì cũng hơi kẹt. Còn nếu người hỏi mà không xạo, hỏi để tu thì nên đi tu đi. Chứ ngoài đời mà không đào đất, không ruộng nương, không đốn cây nhổ cỏ thì sao ở được. Nếu sợ tội quá thì đi tu đi. Quá tốt. Nếu hỏi là làm vậy có sát sanh không? Thì phải nói câu rất đau lòng: Có.
Còn chuyện nói rải tâm từ thì tôi không tin. Anh thấy máy cắt không? Xén kiểu đó thì còn con gì nữa. Rải là rải cái gì? Giống như mình tưởng tượng mai mốt người ta thả bom trên đầu mình mà vừa thả vừa rải : sabbe satta không ra thì chết, kiểu đó cũng kẹt.


Hỏi:
Con có thể tự đọc chú giải của kinh văn Nikaya bằng tiếng Việt ở trang web nào? Tiêu đề sách chú giải cho các bài kinh trong các quyển Kalama (tiếng Anh và tiếng Việt) ở đâu?
Đáp:
Chuyện này nó hơi bậy. Vì lòng đại bi phải nói. Tôi nói một là bị ném đá hai là bị bầm dập.
Theo tôi Việt Nam có một vài địa chỉ đọc chú giải nhưng bản dịch có vấn đề. Nên thôi bà con cứ vào ChatGPT.
Tại sao tôi nói ác vậy? Vì hiện giờ tôi biết không ít người Việt trong nước dịch kinh bằng ChatGPT. Trước đây họ dịch bằng google translation. Quá tệ. Bản dịch tệ hơn vợ thằng đậu tập 6 nữa. Tệ lắm luôn. Google translation đã tệ, mà trước đây có người lấy nó làm công cụ phiên dịch, đọc vô điếc luôn. Tệ hơn là mình đọc thẳng bản ngoại ngữ.
Nếu bà con có tiền thì có 2 cách:
• Order thẳng Pali Text Society, bằng tiếng Anh, mua nguyên bộ.
• Nếu không phải đọc bản chú giải nikaya bằng tiếng Pali, tiếng Tích Lan, vô google tìm. Nếu không biết xài máy thì không biết đường đâu mà làm.
Cách mình tạo từ khóa tìm, quan trọng. Coi trang nào miễn phí lấy cái đó nhờ ChatGPT tìm dùm cho. Nhớ: Không có kiến thức giáo lý lạm dụng ChatGPT có ngày chết chắc. Một là nó dắt mình đi ngàn dặm không có đường lui. Thứ hai là có rất nhiều thứ ChatGPT không bì được với con người. Cho nên, thôi thì thay vì, tôi biết một vài địa chỉ, tôi nghĩ tệ hơn là các vị không đọc. Nếu không thích đọc internet thì order trên mạng, mua của Anh, tiếng Anh. Còn không vô internet đánh : tipitaka.org hoặc tipitaka.suta vào trong đó coi Chú giải. Nếu bí quá thì đành lấy trong đó.
Mù mịt cái đầu không biết gì hết thì biết lấy cái gì? Muốn nhờ ChatGPT anh phải có kiến thức. Thí dụ, anh muốn tìm hiểu về Tứ Niệm Xứ. Anh phải biết Tứ niệm xứ tìm ở đâu, vô trong bài kinh tứ niệm xứ, coi chỗ nào không hiểu, mới chạy qua commentary – chú giải lấy chú giải đó bỏ vô ChatGPT dịch. Nó giống như chợ Bến Thành, chợ Bình Tây, mình phải biết chỗ nào là thực phẩm, chỗ nào bán vải, chỗ nào điện tử, chỗ nào bán tranh ảnh lưu niệm, mình vô ngay chỗ đó lấy cái tượng, đem về nhờ ChatGPT phân tích cho biết tượng này bằng gì. Còn đằng này đi ngang chợ mênh mông chợ Bến Thành, chợ An Đông, Chợ Đông Ba, làm sao vô tìm đúng cây kim băng đem ra nhờ ChatGPT dịch dùm cho? Khổ chỗ đó.
Cho nên, thứ nhất ChatGPT giúp mình nhiều nhưng anh phải có cái nền như thế nào đó anh mới xài được nó. Thứ hai, anh phải cẩn thận với những thứ nó cung cấp.
Ok./.


Mục lục
    1. Pháp đàm 04/09/2022
    2. Pháp đàm 18/09/2022
    3. Pháp đàm 25/09/2022
    4. Pháp đàm 02/10/2022
    5. Pháp đàm 09/10/2022
    6. Pháp đàm 16/10/2022
    7. Pháp đàm 23/10/2022
    8. Pháp đàm 30/10/2022
    9. Pháp đàm 27/11/2022
    10. Pháp đàm 04/12/2022
    11. Vấn đáp – 06/07/2025
    12. Vấn đáp – 13/07/2025
    13. Vấn đáp – 20/07/2025
    14. Vấn đáp – 17/08/2025
    15. Vấn đáp – 05/10/2022

    ← trở về trang Vấn Đáp

    © www.giacnguyen.com